Béo phì và nguy cơ bệnh tật


Béo phì là sự tích lũy quá mức lượng mỡ dư thừa trong cơ thể. Thừa cân, béo phì không chỉ làm vóc dáng chúng ta mất cân đối, thân hình nặng nề… mà còn kéo theo những nguy cơ bệnh tật.

Béo phì và nguy cơ bệnh tật

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tiêu chuẩn đánh giá béo phì ở các nước châu Á dựa vào chỉ số khối cơ thể (BMI = trọng lượng (kg)/bình phương chiều cao (m)). Nếu BMI từ 18,5 – 22,9 là bình thường. BMI từ 23 trở lên gọi là béo phì (trong đó từ 23-24,5 là có nguy cơ, từ 25-29,9 là béo phì độ 1, từ 30 trở lên là béo phì độ 2).

Đối với nam, thường hay béo ở vùng trung tâm, béo bụng: mỡ phân bố phần trên cơ thể: bụng, thân, vai, cánh tay, cổ, mặt, nhất là ở nội tạng.

Ở nữ, mỡ phân bố chủ yếu ở phần dưới cơ thể như: thắt lưng, khung chậu, mông, đùi.

Mỡ tích lũy tại vùng bụng, nguy cơ bệnh tật cao hơn so với các vùng ngoại vi.

Những bệnh tật liên quan

Theo BS Trần Thị Hương Lan (Viện Y dược dân tộc TP.HCM), béo phì có thể dẫn đến nhiều bệnh lý nghiêm trọng như:

Tim mạch: chủ yếu là do xơ vữa mạch máu làm chít hẹp lòng mạch. Nếu ở tim, gây thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong về tim mạch. Nếu ở thận, gây hẹp động mạch thận dẫn đến tăng huyết áp và suy thận. Nếu ở mạch máu não bị chít hẹp hay tắc do mảng xơ vữa gây ra thiếu máu não, nhồi máu não nặng nề hơn là xuất huyết não dẫn đến tử vong.

Hô hấp: tình trạng khó thở kéo dài do cơ hô hấp bị nhiễm mỡ dẫn đến thiếu oxy toàn thân. Đặc biệt hội chứng ngưng thở khi ngủ có thể gây hậu quả nghiêm trọng.

Nội tiết: béo phì cũng làm gia tăng bệnh đái tháo đường type 2, đặc biệt tỷ lệ đái tháo đường type 2 gia tăng có tính chất gia đình. Nếu cha mẹ bị đái tháo đường thì 100% con cái bị đái tháo đường nếu chúng béo phì. Ngoài ra béo phì gây giảm testosterol ở nam. Ở nữ béo phì gây rối loạn kinh nguyệt, rối loạn hay không rụng trứng, mãn kinh sớm. Ngoài ra còn gây rối loạn chuyển hóa lipid làm giảm HDL-cholesterol, gia tăng LDL – cholesterol, tăng triglycerid, tăng cholesterol TP gây xơ vữa động mạch; rối loạn chuyển hóa protein dẫn đến tăng acid urique gây bệnh thống phong (gout).

Xương khớp: béo phì làm quá tải trên hệ thống xương khớp toàn thân, đặc biệt ở vùng cột sống, khớp gối, cổ chân và gót chân làm viêm khớp không đặc hiệu, thoái hóa khớp gây đau nhức triền miên.

Tiêu hóa: béo phì và tích tuổi gây các rối loạn tăng tiết cholesterol mật, thúc đẩy hình thành sỏi cholesterol túi mật.

Ung thư: thống kê của Hội Ung thư Mỹ cho thấy, tỷ lệ tử vong do ung thư ở người béo phì cao hơn 52%  (ở nam) và 62% (ở nữ) so với người có cân nặng bình thường. Béo phì thúc đẩy các bệnh lý ung thư vú, tử cung, đại tràng, tiền liệt tuyến…

Da: béo phì gây chứng gai đen, biểu hiện: sạm da vùng cổ, nếp gấp khuỷu, bẹn, nách, mu bàn tay và kẽ tay. Người béo phì dễ nhiễm nấm da và tình trạng ứ trệ tĩnh mạch.

Phòng bệnh thế nào?

Béo phì là bệnh lý mãn tính có nhiều nguyên nhân, các nguyên nhân thường phối hợp: mất cân bằng năng lượng (chiếm 90%) gây thừa cân, béo phì, chế độ sinh hoạt tĩnh tại, ít vận động…

Điều trị giảm cân giúp ngăn ngừa những hiểm họa do béo phì gây ra. Phác đồ điều trị dựa trên những nguyên tắc cơ bản là tiết chế ăn, tăng cường vận động, sản phẩm thảo dược hỗ trợ giảm mỡ và tâm lý liệu pháp theo hướng dẫn của thầy sản phẩm. Tuy nhiên việc điều trị không đơn giản, đòi hỏi tính kiên nhẫn và sự phối hợp của người bệnh. 

 

Do đó, vấn đề phòng ngừa béo phì là rất quan trọng. BS Lan khuyên, để giảm béo phì nên thay đổi lối sống, ăn uống hợp lý (giảm thức ăn nhiều năng lượng như dầu mỡ, hạt chứa dầu, đồ ngọt, trái cây ngọt, bánh kẹo, nước ngọt, hạn chế rượu bia, lòng, da heo – gà – vịt, cảnh giác với thức ăn nhanh. Nên chú trọng những thức ăn có lợi, như: cá, đậu hũ, rau xanh, trái cây ít ngọt: bưởi, thanh long, táo…); không nhịn ăn sáng và không bỏ bữa, nên ăn chậm, nhai kỹ; tránh thói quen ăn vặt, không ăn tối trước giờ ngủ ít nhất 3 giờ; cần ăn đủ đạm, vitamin, uống đủ 2 lít nước/ ngày.

 

Lối sống năng động: nên chơi môn thể thao phù hợp với sức khỏe (1g/ngày). Thường xuyên đi bộ, hạn chế dùng thang máy tại công sở và nằm sau khi ăn.

Kiểm tra sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm thừa cân, béo phì, và điều trị sớm để tránh hậu quả xấu. Khi điều trị không nôn nóng, dùng sản phẩm theo chỉ định của thầy sản phẩm để có hiệu quả và an toàn.